Thơ trào phúng Nhiếp Ảnh

Đôi lời: Các dòng văn vần tạm gọi là “thơ trào phúng” mà tác giả ký tên tắt: nqhu72 – đã phần nào nói lên tâm trạng quyết chiến giành giật các giải thưởng, huy chương, huy hiệu, tước hiệu… mà phần lớn các tay máy phía Nam lao vào như thiêu thân, đánh mất bản thân mình, nhận về chính mình một khối u uất cay đắng. ĐÂY CHÍNH LÀ MỘT PHẦN CÁC BẠN ẢNH TRẺ HẾT SỨC LƯU TÂM, CŨNG CHÍNH LÀ: DÒNG ẢNH SỐ 3, DML ĐỀ CẬP TRONG GHI CHÉP: “NHIẾP KHẨU GIA SỐ 1 PHÍA BẮC”

Văn-tế ông Lâm Tấn Tài (Chủ tịch Hội Nhếp Ảnh) năm 2001.
Nhờ anh em ai đó vui lòng đọc bài văn-tế này dùm tác-giả nhân ngày giổ ông Tài.
Tác-giả xin thành-thực cám-ơn.

Ong Tài nay đã “tịt” rồi
“Sĩ” cùng mấy “Nghệ” bùi-ngùi buồn lây…
Nhớ khi trước: mỗi kỳ chấm ảnh,
Chủ hội-đồng luôn sẵn tên ông
Tôi chơi, ông chấm đồng-lòng,
Nếukhông giải nhứt, nhì, còn dự treo…
Dù tiền lãnh lèo-tèo mấy chục,
Gỡ tiền film, công chụp đỡ buồn,
Vẫn dư một ít tiền còm,
Lai-rai vài lít ,chiều hôm vui vầy…
Giấy chứng-nhận một tay ông ký,
Để chật nhà, thanh-lý làm sao?
Nếu lên nghệ-sĩ từ lâu,
Bỏ đi , nhằm lúc bụng đau, lại cần….
Lúc sáng-tác nhờ ơn ông liệu,
Ký vài tờ giới-thiệu “bảo-kê”,
Đường xa xứ lạ đi về,
Chính-quyền có hỏi, muôn bề yên thân.
Thương ông lãnh muôn phần lo-lắng
“Sĩ” lôm-côm, ruồi-nhặng xung-quanh
Miệng thì chú chú, anh anh,
Lòng thì nó nó, thằng thằng, “đê-em” (Đ.M.)
Chúng giựt mối, dành ăn không ngượng
Bày trăm trò, trăm chước ngứa tai,
Xé xâu tài-trợ thẳng tay,
Tranh từng lớp dạy, làm thầy mới ngon…
Trò mua máy, huê-hồng thầy hưởng,
Thầy dấu nghề, trò tưởng thầy hay…

Ong biết chăng? Hỡi ông Tài,
Cái “Hội Nhiếp-Anh” ngày nay tanh-bành…
Lại mang tiếng “Trung-Tâm Khoe Của”
“Múa” đồ-nghề, miệng “sủa” làm oai,
Dù làm văn-hóa lâu nay,
Tác-phong giống rặt một bầy con-buôn.

Đó sự-thật, mong hồn ông chứng,
Ong có linh, ông cũng bó tay!

Tôi nay, dù có ảnh hay,
Đếch thèm thi nữa, rớt hoài mất công.
Hết quen-biết, hết mong nghệ-sĩ,
Khỏi dự thi, khỏi phí thời-gian,
Huy-chương, bằng-cấp chẳng ham,
Chứa đầy, lúc chết cũng quăng “giằng hòm”.
Riêng tác-phẩm là còn sống mãi
Ong Tài ơi ! Có phài hay không?

Mời ông thượng-hưởng ít dòng
Mong ông độ kẻ thực lòng thực tâm.
(Viết khi hay tin ông Lâm Tấn Tài mất-2001).

Văn-tế giổ đầu ông Lâm Tấn Tài (2002)
Bài viết chuẩn-bị dành cho giổ đầu của ông Tài. Mong anh em nào có dịp đọc bài này dùm cho tác-giả.
Xin trân-trọng cám-ơn.

Một năm chẵn vắng ông trên hội,
Ong chẳng linh để độ anh em.
Hội ta cứ mãi chèm-nhèm,
Bẩn như cám sú pha hèm mỗi hôm …
Đầy lủ “sỉ” lôm-côm lúc-nhúc
Như cá tra giành-giựt mọi ngày …
Sặc mùi nghệ-sỉ bậc thầy
Miệng loa mép dãi, lưỡi dài hơn râu …
Bài vọng-cổ sáu câu ra-rả:
-Một : giấu nghề, phùng má xưng danh
Tự-hào tài “nghệ” ngon-lành
Còn xem thiên-hạ đếch thằng nào hay.
-Hai: bệnh tự phô-bày “hàng hiệu”
Chơi Nikon ra điệu dân sành.
Hàng “for” dù xịn rành-rành
“Sỉ” chê hàng “lụi”, đ. thằng nào mua !
-Ba: trong lớp, thầy “rù” bán máy
“Thuốc” học trò để lấy phần trăm,
Dù cho “hàng luộc” tanh-bành
Thầy kêu “nét cứng”, là dành nhau mua.
-Bốn: chen-chúc thi-đua dự giải
Hốt huy-chương để lấy VAPA
Quý-ông cho tới quý-bà
“Lên nòng” chiến-đấu tỏ ra dân “Pro”.
-Năm: người mẫu, studio, dàn-dựng,
Áo đỏ, xanh theo “mửng” thầy đưa
“Dợt” em mọi kiểu chẳng chừa
Bờ tre, bụi chuối, gốc dừa… mọi nơi.
-Sáu : “đạo ảnh” mà “chơi” đồng
nghiệp
“Tội Tổ-Tông” sách chép rành-rành…
(*Theo lịch-sử nhiếp-ảnh, ông tổ Niépce bị Daguerre cướp công trong phát minh ngành ảnh)Chẳng còn tình-nghĩa em anh
Làm “photo tặc” nổi-danh một thời.
Nghe tới đó, ôi-thôi! lợm giọng
Biết chắc ông cũng ngọng như tôi,
Tức hôm ông mất vừa rồi
Chúng còn giả khóc, bịa lời tiếc-thương
Lúc ông sống, chúng gườm chúng ghét
Ong mất đi, chúng thiệt hả-hê.
Khóc chơi rồi xách đít về,
Hồn ông ấm-ức ê-chề, mặc ông.
Khi còn sống ai không lầm-lỗi?
Đậy nắp hòm, tội-lỗi xóa đi.
Lỗi ông, để bụng làm gì ?
Tiếc rằng hậu-quả nó thì quá ghê:
Ong lúc trước, chẳng nghe cảnh-báo
Nuôi ong trong tay áo của mình
Chúng tu thành quỷ, thành tinh
Chơi trò “phản chủ” đâm mình sau lưng.
Thằng rải giấy để tung xuyên-tạc
Gây bất an, xấu mặt anh em,
Bon-chen chưa đã bụng thèm
Triệt từng đồng-nghiệp, gây thêm bất hòa.
Rồi nổi máu Đào-Hoa “sung độ”
Cơn “ngứa nghề” , “tồn” sợ “héo” đi,
Ngửa lưng cầu-viện Bắc-Kỳ,
“Rước voi” nghệ-sỉ dí đì mặt ông…
Thương ông bịnh, sức không chống trả,
“Dứt-điểm” ông, họ đã đưa ra
“Tống ôn Nghệ-sỉ” , (gọi là:
“Hội-Đồng Tang-Lễ”) ,tỏ ra nghĩa-tình.
Lớp-lang cả đội-hình cụp-lạc,
Đủ chức-danh, nhân-vật hẳn-hoi.
Tận răng đạo-cụ “đồ-chơi”
Máy to, máy nhỏ để ngồi “canh-me”
Khách đủ hạng đi về xoành-xoạch
Giống như ngày đắt khách studio,
Cứ theo lý-thuyết thầy cho,
60/5.6 mà “phơ “ thả dàn.
Đêm Hàn-thực chẳng bằng một gốc !
Ngày Nguyên-Tiêu đã trót thua xa !
Long-lanh đèn flash kêu sa,
Hơn ngày họp mặt ông bà “đồng-hương”
Nghĩ màtức vừa thương chủ tịch
Đã một thời nắm trịch cầm cân.
Sinh tiền, chúng ám-hại dần,
Mất rồi, chúng lại dựng-dàn như mơ.
Đúng sách vở photo ông dạy,
Ý-tưởng sao bóng-bẩy thật hay,
Tránh nhìn tiêu-cực (theo bài),
Chọn “view” tích-cực, chờ ngày dự thi…
Sao không mở cuộc thi “Anh (-sáng) đẹp”?
“Anh đám-ma” đôi việc một công !
Ngó hình nghệ “sởi” chất-chồng,
Ansel mất vía, Bresson giật-mình…
Chức ông đó, thằng rình thằng chực,
Ghế ông đây, đứa giựt đứa dành.
Ngồi mơ tột đỉnh công danh,
Vổ mông tự đắc, tung-hoành một phương.
Vì “nghệ-sĩ “ , triệt luôn đồng-chí,
Bởi huy chương, mà thí anh-em,
Tôi nay: hoạt động âm-thầm
Đ. ham nghệ-sỉ, yên-tâm mọi bề.
Ai thắc-mắc vấn-đề này nọ,
Dấu nghề chi cho khổ cái thân?
Khỏi lo “táo-bón tinh-thần”
Chết mang đi cũng chẳng cần-thiết chi.
Tìm bằng-hữu mà đi trau-đổi,
Truyền-bá nhau cho khỏi “ngu dân”,
Mở-mang tiến-hóa dần-dần,
Cùng nhau tranh-đấu canh-tân một lòng…
Dẹp thi-cử, lối-mòn dàn-dựng,
Nổ làm chi ! thử đứng nghĩ coi:
Làm sao tác-phẩm sống đời?
Làm sao ý-tưởng mọi người nể-nang?
Ong, tác-phẩm không bằng kẻ khác,
Lúc qua đời, có cách để danh:
Trối-trăn tặng viện bảo-tàng
Đồ-nghề, kỷ-vật để thành của công.
Mong đồng-nghiệp cùng dòng suy-nghĩ
“Hiến” hết đi, úm kỹ làm gì?
Chết rồi “của quý” vất đi,
Cầm ra Lê Lợi họ chê “hết xài”.
Giấy chứng-nhận, ve-chai xé sạch,
Đống huy-chương, thợ bạc còn chê …
Gương ông, dân “sỉ” khó bì,
Ít nhiều tích phúc , tiếc gì mấy “bô” (body) …
Hẹn năm tới, gởi vô trong net (internet)
Một tế-văn trọn hết tình-thân

Mời ông thượng-hưởng ít vần,
Mong ông linh-hiển, muôn phần nhớ ông.
(Sài-gòn 15-5 năm Nhâm-Ngọ giờ Tuất)

Nghệ-sĩ nhiếp-ảnh ngày nay.
Tặng anh em Nhiếp ảnh đọc giải-trí, mục-đích châm-biếm những “sỉ” lợi-dụng “nghệ” loè thiên-hạ.
(bài 1)

Ảnh tác-giả: đầu nhìn chênh-chếch
Mấy “body”, đeo hết trên mình.
“Photo artist“ tài danh,
Rửa hình giá “thợ”, bán hình giá “Tây”.
Đi sáng-tác rày đây mai đó,
Dàn-dựng theo sách-vở rõ-ràng:
Bà già: miệng móm, vú nhăn,
Ong già: rụng hết sạch răng, râu dài,
Lựa thiếu-nữ: mình dây, tươi-mát,
Chọn trẻ-con: cặp mắt đứng tròng,
Sáu-mươi, năm-sáu (60/ 5.6) cho thông
Gối đầu chổ tối, cho phông xóa mờ
Chọn áo đỏ, hay đồ sặc-sỡ,
Xoay polar hết cỡ: xanh trời.
Đánh dư một khẩu: màu tươi (!?)
“Nhá” thêm tý flash, mặt thời sáng lên !
Chụp ngược sáng, “rực”ven đường tóc.
Xóa chân lông, “trùm” soft filter…
Mấy dòng lý-thuyết sờ-sờ
Tay ngang cũng hiểu sơ-sơ đủ dùng.
Sách học thầy, thuộc-lòng cho vững,
Máy mua thầy, bấm bụng đừng rên,
“Của” thầy hàng hiệu, đắt tiền
“Canh me” được giá, thầy liền bán đi (!)
Lúc trả giá, thầy “đì ” hết cỡ,
Thiếu chịu tiền, thầy nợ thả ga.
Thương dân bán máy gần xa,
Kẹt tiền, chôn vốn, “lỗ ta, lời thầy”.
Trò thắc-mắc tìm thầy, năn-nỉ,
Thầy giấu nghề, trò nghĩ thầy ngon.
Mời thầy đi nhậu chục lon,
Thầy “cương”, thầy “rặn” vài dòng tuyệt-chiêu.
“Phút kinh-hoàng” ít nhiều cũng bị,
“Cảnh tật mang” ai nghĩ chữ “ngờ”.
Tin thầy , một đám “nghệ tơ”
Trúng lời đường-mật, ngây-thơ theo thầy!
“Phần trăm” đó, bụm tay thầy hốt,
“Hàng lụi” đây, trò khóc “ôm sô”
Bao nhiêu vốn-liếng đổ vô,
Bị bả “thầy thuốc”, bể sô, nát lòng…
Đây! Công-thức cho ông chụp “đám”:
FM2, hai-tám tám-lăm (28-85)
Film Pro (hay thứ hai trăm),
Kèm theo đèn Metz, chắc ăn mười phần.
Phông, dù, kính “Cô-canh” (Cokin) vài miếng,
Nhớ đừng quên thủ kiếng polar!
Thủ giò ba cẳng phòng xa,
Arica đủ để mà phô-trương…
Muốn thành “nghệ“, trăm đường “nâng-cấp”
Mong lên “pro”, vạn cách “đầu-tư”
“Bô”to*, “Bô ” nhỏ ** có dư , (*Body máy lớn;** body máy 24×36)
Nòng dài, “phi” bự , còn chưa thỏa lòng,
Hàng đủ loại: Chinon, Sig (Sigma), Tok (tokina)
Minolta, Rì-Cốc (Ricoh) , Tamron,
O-lem (Olymus), Pentax, Canon,
Nhu cầu nghệ sĩ: Nikon tràn về.
Theo tiêu-chuẩn: ED -AF
(Phải đời “D” ! ), đèn “dập” SB,
Monopod tiện mọi bề,
Bogen ba cẳng, chẳng hề sợ thua!
Canh thời-tiết, “mây-mưa” bất-tử
Liếc đồng-hồ, đón cử chạy “sô”
Nắng to, nắng cực, chạy vô,
Mưa dầm, mưa ngủ, thôi, chờ ngày mai…
“Đạn” đầy túi, “bắn” hoài chưa hết,
“Bóp” ra-phan, không tiếc dịp may,
“Dợt” cho người mẫu ngất-ngây,
Mỗi em một ít, cả ngày lói-le (le-lói).
“Anh nhớ đời” chụp “phê” mới có
“Hàng dự thi” ém khổ vô-vàn!
Như mèo dấu cứt không bằng,
Bị ai “đạo” ý, ruột oằn chín cơn.
Thèm nổi-tiếng, quyết ôm giải nhất
Vét huy-chương về chất chật nhà (!?),
Máy thầy, tiền vợ, phúc ta,
“Líp-ga” sáng-tác để mà dự thi.
“Đại-trà” gởi ảnh đi, đừng ngại !
“Biết ý” người, dỡ phải thành hay.
Thông-thường, giám-khảo Tấn Tài
Bà Đào Hoa Nử, thêm ngài Trần Thăng
Đồng Đức Thành, Thu An, Nguyễn Thịnh,
Nguyễn Mạnh Sinh, Phạm Kỉnh, Minh Trường…
Lòng-vòng mấy vị không hơn,
Ý-đồ giám khảo, “quen” đường mà phăng.
Nhìn giám-khảo công-bằng hết biết
Lúc chấm thi quả thiệt kỹ-càng,
Duyệt qua các ảnh mấy lần,
“Quăng tiền” cho điểm, rõ-ràng công-khai !
Lật lưng ảnh, xem ai cho biết,
Đánh rớt lầm thì thiệt người ta,
Trước khi danh-sách đưa ra,
Xào qua xáo lại, bàn qua nhiều lần.
Cuộc chấm ảnh công-bằng như thế,
Tức làm sao, có kẻ chê-bai,
Nào là giám-khảo bất tài,
Nào là tham-nhũng, có ngài “đi đêm”.
Sao bọn nó tỵ-hiềm xuyên-tạc?
Lại đồn nhau, bày-đặt linh-tinh…
Cho nên giám-khảo tức mình,
Bày trò “Giám-khảo đem hình dự-treo”.
Thí-sinh thấy, “nòng teo”, khẩu phục,
Liệu sức mà tiếp-tục học thêm,
Bền gan, tốn bạc, tốn tiền,
Đi theo vài khóa, để lên tay nghề.
Trên thế-giới chẳng hề mà biết
Giám-khảo ta quả tuyệt chiêu thần!
Miệng mồm, mánh-khoé tuyệt luân,
Cho bầy nghệ-sĩ khỏi lần-mò ra…
Vô giải nhứt, nhì , ba, hốt bạc,
Anh dự treo gỡ-gạc tiền film,
“Rớt đài” hốt “xác” im-lìm,
Mấy trăm ảnh gửi, như tiền đổ sông.
“Gom hài-cốt”, “vận công” chơi tiếp,
Trong một năm, nhiều dịp “cồng-cua” (concours).
Cạp từng cái giải chẳng chừa,
Mình là nghệ-sĩ đ. thua thằng nào !
Kodak trúng “hầu-bao” béo-bở,
Fuji tung tài-trợ hốt tiền,
Các minilab “lên tiên”,
Thương dân nhiếp-ảnh, sạch tiền vì chơi.
Cứ dàn-dựng, tìm-tòi sáng-tác,
“Phô” đồ-nghề, lác mắt anh-em,
Đến kỳ thi nọ mà xem,
Nhìn xem giải nhứt, chửi thầm hết chê
Hình “ma đói” làm nghề “moi đá”
“Vác đá” lên nhăn cả mặt mày,
Một bầy nghệ-sĩ khổ thay!
Thua thằng “đẽo đá” dạn-dày nắng mưa.
Đường nghệ-sĩ, đi vừa mò-mẫm,
Đi ngược chiều, mắt chẳng sáng ra:
Đã quên chữ “nghệ” ở nhà
Sờ lầm chữ “sĩ”, bỏ bà ! RÕ CHƯA?
(4-2001-hiệu chỉnh 5-2002)

(Bài 2) (xin lỗi vẫn còn bỏ sót tên nhiều vị danh tiếng)

Đam-mê ảnh, không chừa bỏ được,
Nhìn lại xem, những bước người đi
Biết bao những “nghệ” dạn-dày
Sáu mươi năm trước, đến nay mấy người?
Già nhất xóm, chỉ chơi một máy:
Võ An Ninh, “Nạn đói 45”
Văn Mùi “Suối tóc mịn-màng”,
Cao Đàm, Cao Lĩnh… thuộc đàn cha anh.
Nguyễn Ngọc Hạnh, “VN Khói lửa”
Cùng Mạnh Đan chia nửa tiếng vang,
“Ong già” Từ Chấn tung-hoành,
Da nhăn, tóc bạc, vang danh một thời…
Tre già, tất tới hồi măng mọc,
Mặc khó-khăn, mặc lúc thịnh-suy,
Đàn em tiếp gót bước đi
Quyết mang cái nghiệp, cái nghề photo.
Nguyễn Mạnh Sinh “Ghe đò-sấm sét”
Lâm Hồng Long “Gặp mặt mẹ con”
Hồng Nga, đào kép cải lương
Đỗ Ngọc “Bà Cháu”, Văn Lan “Thầy Đồ”.
Đào Hoa nữ, “Thân Cò” lặn lội
Bùi Minh Sơn, “Bến Đợi” buồn tênh.
Thi Thơ, trẻ nít tung tăng,
“Sinh, Lão, Bịnh Tử”, Đức Thành nổi danh.
Trên trăm giải, Duy Anh ôm trọn,
Thế Nhiệm (Hoàng) hiện “Bóng từ-bi”
Thạch Vân “Sức Sống” tràn-trề,
Bé Tư ngồi đón “Xuân về Đồng Hoang”
“Theo (anh) vào đời”, Thu An rậm-rực,
Xem “Đua Bò” Quang Phúc hân-hoan,
Ngọc Dân, rảo “tiệm Hội-An”
Hải Sơn, y-tế ; công-nhân, Viết Bình.
“Niềm vui” đến, Đức Minh mong-mỏi
Hồng Linh (Lê) “Chờ-đợi” mòn hơi,
Tấn Ghi “Vác đá” động trời
Ai la, ai chửi, ai cười, mặc ai…
(Hay hay dở, ngày mai sẽ biết,
Lửa thử vàng, sự-thiệt hiển-linh!)
Duy Bê kỹ-thuật tài-tình,
Minh Long đen-trắng, xảo-tinh ai lường…
Phóng-viên ảnh chiến-trường hăng-hái,
Ong Trọng Thanh vì gái bỏ mình,
Anh em cảnh-giác cho tinh,
Đề phòng người mẫu hiện hình Hồ-Ly !
Chụp ảnh cưới, hay đi ngoại-cảnh,
Vô Studio, hoặc ảnh khỏa-thân,
Chàng Tô Thanh Nghiệp, trẻ măng,
“Lò” thầy Phùng Hiệp xuất thân, ai bì.
Phạm Quang Sáng, Đức Huy, Nguyễn Á,
Bá Cường, “phơ” mấy ả Thời-Trang
Hoàng Minh “nòng dựng” sẵn-sàng
“Ria” cho “một phát”, mấy “băng” “nhớ đời”..
Hàng nghìn ảnh xem hoài chẳng hết
Nếu không tên thì biết của ai?
Xì-tin (style) giống rặt một bài,
“Cụng hàng” chan-chát ngó hoài mất công!
(5-2001)

NSNA sáng tác
Bài này mục đích chỉ giải trí cười chơi, không có ý gì khác

“Nghệ” nhiếp ảnh một lò ra cả
Sáng tác chung trước lạ sau quen,
Nghệ anh cho tới nghệ em
Dòm nhau “của quý” để xem sức mình.
Em 2.8 , anh nhìn sững gáy
Anh 72, em thấy hoảng hồn
Nòng zoom anh thụt tinh thông,
Lúc dài lúc ngắn, thêm “vòng” polar.
Em siết khẩu tỏ ra điệu nghệ,
Chỉnh chiều sâu thấy dễ vô vàn,
Cùng anh bố trí dựng dàn
Phông dù, đèn flash, phản quang sẵn sàng…
Anh hứng chí “lên nòng” ria ẩu,
Em giạng chân “banh khẩu” canh me
Ra-phan anh bắn tứ bề,
Brắc-kê (bracket) em “nhấp” chẳng hề chịu thua.
Đứng, nằm, ngồi, chẳng chừa một kiểu
Lúc tắt đèn , lúc chiếu sáng ngời,
Ba mươi sáu kiểu chưa thôi,
Xa gần, trên dưới, mồ hôi chảy ròng…
Tay rời rã, gục nòng, hết đạn,
Mắt đẫn đờ, lỏng cẳng, hết hơi.
Một “pha” sáng tác đã đời
Ít nhiều cũng có để “chơi” phong trào.
Anh lau máy, bỏ bao, tháo kính,
Em “thổi nòng”, tay xịt sạch trơn…
Nét “lên” không “cứng” thì hờn,
Cùng nhau “tới bến” (ảnh trúng giải) lâng lâng cả ngày…
Chơi tới bến ,khoe tài nghệ sĩ,
Bắn sệ nòng mới nghĩ, sướng không?
Còn người, còn nghệ, còn “ngon”,
Còn mơ Artist, còn mong “lên nòng”. (8-2001)

Cực-Đại Nghệ Sĩ Nhiếp Anh.

Nhiều bức ảnh được giải: Quen đến mức nhàm chán
(Bài đọc tham khảo thêm, in trên Báo LĐ)

Những năm qua, nhiều bức ảnh được giải thưởng trong và ngoài nước thường là chụp đồi cát Mũi Né (Bình Thuận) và những gương mặt già nua khắc khổ của đồng bào dân tộc thiểu số. Cứ thế, nhiếp ảnh Việt Nam với hai đề tài này đã trở nên quen đến nhàm chán.

Trong một lần trò chuyện tại Nhà triển lãm Hàng Bài (Hà Nội) nhân xem triển lãm ảnh về VN của nhà nhiếp ảnh nữ người Hàn Quốc Keyoung – Zachoi, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Bảo phàn nàn vì sự ít chữ trong việc đặt tên ảnh của các nhà nhiếp ảnh ta: “Cái gì cũng “vũ khúc”: Vũ khúc trong sương, vũ khúc bình minh, vũ khúc hoàng hôn…”.

Đúng thôi, họ sợ ảnh tĩnh quá, đơn điệu quá nên gán tên “vũ khúc” vào cho sống động, cho giàu tính nghệ thuật. Hoạ sĩ Đỗ Phấn thì cho rằng, sợ nhất phải xem ảnh chụp đồi cát Mũi Né hay ảnh chụp bà con dân tộc thiểu số. Tôi biết, có một bà cụ dân tộc ở Lâm Đồng được coi như “người mẫu” của làng nhiếp ảnh ta. Có bận, người ta kéo lên cả đoàn để chụp, sau đó biếu bà cụ tội nghiệp chút tiền còm hoặc thùng mỳ tôm rồi khấp khởi chờ gửi ảnh đi thi.

Đỗ Phấn đã chứng minh cho tôi rằng, hai đề tài ấy thật sự đã cũ đến nhàm chán. Anh đưa cho tôi cuốn ảnh nghệ thuật – hình ảnh quê hương VN tập 1 do Hội ảnh nghệ thuật VN xuất bản tại Sài Gòn năm 1970. Người ta đã tính rằng chỉ trong khoảng thời gian 1958 – 1963 – nghĩa là thời kỳ chiến tranh chưa vào giai đoạn cao nhất – đã khoảng 30 nhà nhiếp ảnh VN giành được hàng trăm huy chương, cúp bạc và bằng tưởng lệ qua các triển lãm, cuộc thi ảnh quốc tế.

Trong số đó, đề tài đặc biệt là đồi cát Mũi Né. Nó là địa danh ruột của các nhà nhiếp ảnh và nói như nhà nhiếp ảnh Ngô Đình Cường thi họ “còn thuộc hơn cả người dân địa phương từng thước đất của vùng biển mặn cát vàng”. Ông kết luận: “Tác phẩm đồi cát Mũi Né đã “chu du” khắp thế giới, đoạt nhiều huy chương thượng thặng cho đất nước VN mến yêu”.

Có thể nhắc đến các tay máy xuất sắc với đề tài này: Nguyễn Cao Đàm đoạt giải ở Madrid, Tây Ban Nha; Lê Anh Tài với giải Grand Prize Winner năm 1965, Khưu Từ Chấn với 2 huy chương đồng quốc tế ở Hồng Kông, Hàn Quốc, Võ Văn Thạnh chiếm giải nhì tại Louvain (Bỉ) năm 1970. Và còn hàng loạt nhà nhiếp ảnh khác từ lão làng như Trần Cao Lĩnh, Nguyễn Mạnh Đan đến thế hệ sau như Nguyễn Ngọc Hạnh, Phạm Quang Phước… đều đã có những tác phẩm đẹp về vùng cát này.

Riêng đề tài về các cụ già, trẻ con người dân tộc thì xin để dịp khác. Chúng tôi chọn 2 bức ảnh chụp đồi cát Mũi Né từ gần 40 năm trước để bạn yêu nhiếp ảnh so sánh. Quả thật, dù bây giờ phương tiện kỹ thuật, máy móc có hiện đại hơn, nhưng riêng tôi, không thấy các bức ảnh chụp Mũi Né nay hay hơn. Phải chăng Mũi Né không còn đẹp đẽ, nên thơ như xưa?

Không, có lẽ chỉ vì lối chụp ảnh nghèo nàn cảm xúc, cũ kỹ về sáng tạo cùng phương thức kéo bầy đoàn và ý đồ “chuộng lạ” để nhăm nhăm kiếm giải thưởng đã mang đến một Mũi Né cũ kỹ, nhàm chán trong nhiếp ảnh VN đương đại…
(Theo LĐ)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: