Setup Cơ Bản Để Có Dữ Liệu Tốt

1. Chọn File Format: Hầu hết các máy ảnh “high-end” cho ta sự lựa chọn giữa TIFF, JPEG, và RAW. Thông thường ta nên tránh chụp TIFF vì format này sẽ nhanh chóng chiếm dung lượng lớn trên memory card và cần nhiều thời gian để chép nên hạn chế khả năng chụp cơ động và nhanh giữa các shots (rapid succession).

Sự lựa chọn còn lại là giữa JPEG và RAW. Đây là vấn đề ý thích cá nhân.

Chụp JPEG: 1a. Nếu bạn là người thích chụp “đúng” ngay tại thời điểm chụp (đúng đây là đúng White Balance, màu sắc, “tông” (tonal response),..) và chỉ cần làm hậu kỳ cơ bản trong Photoshop hay Lightroom. 1b. Hoặc nếu bạn cần chứa nhiều ảnh trên memory card và chụp với mật độ cao (rapid succession).

Chụp RAW: Nếu bạn không phải là người chụp “action”, và thích rề rà trước máy tính để thử nghiệm những hiệu quả đặc biệt mà cần dữ liệu thật tốt (đặc biệt các bạn chụp “landscape”).

Kinh nghiệm của tác giả (hafoto): Vì tôi chụp chính là chân dung và đám cưới theo phong cách “photojournalism” (phong cách này đòi hỏi làm việc với tốc độ và mật độ cao, đừng ngạc nhiên vì tôi thích nói nhiều và đôi khi “hyper”, hi hi) và củng vì Photoshop cho tôi làm chủ nhiều hơn phần hậu kỳ, nên JPEG theo tôi là sự lựa chọn đúng đắn (you don’t have to believe me this point, ha ha…). Một lý do cá nhân nữa là tôi muốn chứng minh là mình gan (phản nghĩa là “nhát”, xin lỗi các bạn thích chụp RAW, hi hi), và lý do nữa là tôi nghe nói JPEG là “lossy” format, nghĩa là sau nhiều lần mở đóng file thì file bị giảm chất lượng (hmmm..), tôi vẫn thỉnh thoảng retouch lại những ảnh chụp cách đây 8 năm mà không thấy “lossy” gì hết (có thể các nhà sản xuất có âm mưu gì đây hay là tôi “arrogant”, “stubborn”, “ego-center”….rồi sẽ biết, hi hi).

2. Chọn Color Space:

Khi bạn chụp JPEG format, bạn cần phải chọn color space Adobe RGB hay sRGB. Trên lý thuyết, nếu bạn chỉ chụp ảnh chỉ dùng để xem trên màn hình hoặc chia sẻ trên mạng thì bạn set chế độ sRGB (hu hu, why u do this?). Còn thì bạn set chế độ Adobe RGB. Trên thực tế, bạn nên (và phải) chụp với chế độ Adobe RGB vì chế độ này cho nhiều màu hơn (color gamut is wider) cho dù sau đó các máy in ở phòng lab chuyển thành chế độ sRGB để in ảnh của bạn. Một lý do nữa là với chế độ Adobe RGB thì công việc hậu kỳ sẽ dễ dàng hơn. Mà còn một lý do nữa là sau khi hoàn tất công việc hậu kỳ, bạn cảm thấy hân hoan muốn chia sẻ trên mạng thì bạn chuyển thành chế độ sRGB (có một kỹ thuật về công đoạn này làm cho màu sắc cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ (3 chữ cực kỳ) rực rỡ trên màn hình mà tôi sẽ chia sẻ trong phần retouch sau này). Còn một lý do nữa chụp với chế độ này, đồng nghiệp sẽ nhìn bạn với con mắt khâm phục (woww.. he is a pro). Còn một lý do nữa….(nói chung bạn đã hiểu là chụp ở chế độ Adobe RGB quan trọng đến dường nào).

3. Chọn ISO setting: Nếu có thể được bạn luôn và nên chọn ISO thấp nhất có thể được cho dù nhiều máy hình hiện đại cho phép bạn chọn ISO cao mà không bị “noise”. Đừng quên là ta cần dữ liệu tốt nhất có thể được cho phần hậu kỳ mà vấn đề “noise” là vấn đề đang bàn hằng ngày trên vnexpress (hi hi). Ta chỉ chọn ISO cao trong trường hợp thật đặc biệt như chụp tại những nơi ánh sáng kém và sử dụng flash bị nghiêm cấm (see, being a photographer is not easy).

4. Định White Balance: Khi bạn set White Balance đúng tình trạng ánh sáng tại hiện trường thì bạn sẽ có màu đúng. Nếu không đúng thì (tùy theo không đúng tới mức độ nào) thì ảnh của bạn sẽ có màu bị ám (gọi là color cast). Màu ám có thể là lạnh (xanh) hay ấm (đỏ). Nếu bạn chụp RAW thì bạn không phải bận tâm về vấn đề này vì bạn có thể chỉnh lại chính xác trên Camera Raw hay Light Room. Nếu bạn chụp JPEG, thì nên set chế độ Auto (đừng để ai biết, hi hi) vì nếu có vấn đề ám sắc xảy ra thì chỉ bị nhẹ mà ta có thể chỉnh lại dễ dàng trong Photoshop. Ngoài ra, có một số phần mềm (Plug-In) có thể giúp bạn khắc phục hoàn toàn nếu ảnh bạn có vấn đề với White Balance (tốt nhất chỉ dùng khi có vấn đề thôi).

5. Đo sáng: Để chụp theo phong cách photojournalism thì bạn bị hạn chế nhiều về sử dụng dụng cụ đo sáng rời (hand-held light meter). May mắn thay hệ thống đo sáng trên máy DSLR hiện nay tiến bộ vượt bực (reliable), thông thường bạn set chế độ Evaluative còn trường hợp đặc biệt như hoàn cảnh độ tương phản cao thì bạn set chế độ Center-Weight.

6. Sử dụng Histogram để đánh giá dữ liệu: Một trong những tiện lợi của kỹ thuật số là bạn có thể dùng Histogram để kiểm soát chất lượng của ảnh sau khi bấm máy. Hầu hết các máy ảnh số ngày nay có có chức năng “chớp chớp” (ha ha) (flashing, blinking) để báo những vùng bị dư sáng hay thiếu sáng. Trên biểu đồ Histogram là một vạch thẳng đứng ngay lề trái (nếu mất chi tiết vùng tối), hoặc lề phải (nếu mất chi tiết vùng sáng) mà người ta gọi là “spike”.
Để khắc phục bạn có thể dùng chức năng “Exposure Compensation” để tăng hoặc giảm khẩu nhằm khôi phục lại những vùng này. Xem Manual của bạn để tìm hiểu cách sử dụng Histogram và Exposure Compensation.

Ví dụ về Histogram khi bị cháy sáng

Ví dụ về Histogram khi bị mất chi tiết nơi vùng tối

7. Ống kính: Nhiếp ảnh chân dung là thể loại khá đa dạng về bố cục và linh hoạt (flexibility), nên cần thiết là bạn có đủ loại ống kính (wide, normal, tele). Tốt nhất là bạn nên có ống Zoom. Ống kính Zoom ngày nay có những ống có thể mở đến f/2.8 và có hệ thống “lấy nét nội tại” (internal focusing), giúp cho việc lấy nét nhanh và không thay đổi chiều dài ống Zoom (physical length) khi bạn lấy nét. Một yếu tố nữa là bạn nên chọn cho mình điểm lấy nét (focus point) mà mình cảm thấy dễ dàng khi chụp. Một số máy cho phép bạn chọn điểm không trung tâm (off-centered). Đây là vấn đề ý thích cá nhân.

Chân dung chụp bằng ống kính rộng (wide angle lens)

Chân dung chụp bằng ống kính Normal (50mm)

Chân dung chụp bằng ống kính hẹp (tele lens)